Gửi tiết kiệm, gửi tiền tại ngân hàng là một phương thức bảo toàn tài sản phổ biến và được pháp luật thừa nhận như một quan hệ gửi giữ có sinh lợi. Tuy nhiên, khi chủ sở hữu sổ tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng qua đời, việc xác định số phận pháp lý của khoản tiền này, cũng như thủ tục để người thừa kế nhận lại, vẫn là vấn đề gây nhiều vướng mắc trong thực tiễn. Để làm rõ, có thể tiếp cận dưới ba góc độ:
Thứ nhất, cơ sở pháp lý về quyền thừa kế đối với tiền gửi tiết kiệm, gửi ngân hàng
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ ràng tiền gửi tiết kiệm, gửi ngân hàng thuộc phạm vi “tài sản” theo Điều 105 và trở thành “di sản thừa kế” theo Điều 612 khi chủ sở hữu qua đời. Cơ chế thừa kế được phân định theo hai trường hợp:
- Nếu có di chúc hợp pháp, việc phân chia tuân thủ ý chí của người lập di chúc (Điều 624).
- Nếu không có di chúc, việc thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng với thứ tự hàng thừa kế được quy định tại Điều 651, trong đó hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha mẹ, con đẻ, con nuôi.
Như vậy, tiền gửi tiết kiệm, gửi ngân hàng không tự động trở thành “tài sản vô chủ” hay “thuộc về ngân hàng” mà luôn nằm trong khối di sản hợp pháp được bảo vệ bởi pháp luật thừa kế.
Thứ hai, điều tra tài khoản người đã mất mở ở ngân hàng nào
Thực tiễn cho thấy, việc nhiều gia đình không biết người thân có sổ tiết kiệm đã dẫn đến nguy cơ thất lạc hoặc kéo dài thủ tục. Do đó, việc pháp luật quy định cơ chế xác minh tại ngân hàng và thủ tục công chứng thừa kế không chỉ bảo đảm quyền lợi của người thừa kế, mà còn hạn chế tối đa tranh chấp và phòng ngừa hành vi chiếm đoạt tài sản. Không ít trường hợp người thừa kế biết mình có quyền nhưng lại gặp trở ngại trong việc tiếp cận thông tin, hoặc vướng mắc về thủ tục nên không thể thụ hưởng tài sản một cách trọn vẹn.
Để xác định thông tin tài khoản ngân hàng của người đã mất, người thừa kế cần tiến hành rà soát giấy tờ và thông tin liên quan trong sinh hoạt và giao dịch tài chính của người đã mất. Cụ thể, kiểm tra các giấy tờ cất giữ trong két, ngăn kéo như sổ tiết kiệm, sổ đỏ, hợp đồng bảo hiểm, giấy tờ vay mượn, biên lai ngân hàng, thẻ ATM, sao kê gửi qua bưu điện, biên lai rút, nộp tiền hoặc thư từ ngân hàng. Đồng thời, tra cứu email, điện thoại, tài khoản internet banking (nếu có mật khẩu), SMS báo biến động số dư. Ngoài ra, cần hỏi thông tin từ người thân, hàng xóm, kế toán, luật sư hoặc những người từng làm thủ tục cho người mất. kiểm tra tạicông ty nơi người đã mất từng làm việc, cơ quan bảo hiểm, đơn vị chi trả lương, thậm chí tham khảo hồ sơ thuế, đất đai, hoặc hỏi cán bộ địa phương nếu người mất từng làm thủ tục hành chính. Trường hợp vẫn chưa xác định được, có thể nộp đơn chính thức để yêu cầu tra cứu tại các ngân hàng lớn trên địa bàn. đây là biện pháp mất thời gian nhưng đã giúp nhiều gia đình tìm ra tài khoản ngân hàng của người đã mất.
Thứ ba, trình tự thủ tục nhận thừa kế sổ tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng
Có thể thấy rằng cơ chế thừa kế tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu được Hiến pháp 2013 và Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định. Ngân hàng chỉ đóng vai trò là bên giữ tiền, không có quyền chiếm hữu hay định đoạt tài sản này khi chủ sở hữu qua đời. Quyền thừa kế đối với tiền gửi tiết kiệm là sự nối dài quyền sở hữu từ người đã chết sang người thừa kế, bảo đảm tính liên tục của quan hệ tài sản. Do đó, để hiện thực hóa quyền thừa kế, các người thừa kế phải tuân thủ trình tự pháp lý gồm:
- Xác minh tại ngân hàng: Người thừa kế nộp giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân và văn bản yêu cầu kiểm tra. Ngân hàng có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin về sự tồn tại của sổ tiết kiệm (theo Luật Các tổ chức tín dụng và Thông tư 23/2014/TT-NHNN).
- Làm thủ tục thừa kế tại tổ chức hành nghề công chứng: Hồ sơ bao gồm sổ tiết kiệm (nếu có), giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, di chúc (nếu có). Công chứng viên thực hiện niêm yết theo Điều 18 Luật Công chứng 2014 để bảo đảm tính công khai, minh bạch.
- Thực hiện giao dịch tại ngân hàng: Sau khi có văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng, các đồng thừa kế đến ngân hàng để rút tiền. Trường hợp nhiều người thừa kế, có thể lập văn bản ủy quyền hợp pháp cho một người đại diện.
Đáng lưu ý, nếu khoản tiền gửi tiết kiệm, gửi ngân hàng là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì trước hết phải xác định phần quyền sở hữu chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, sau đó mới chia phần di sản của người chết để lại.
Luật sư Đinh Hùng Lĩnh – Giám đốc Công ty Luật RULE