Khi một người qua đời, việc khai nhận di sản thừa kế là bước quan trọng để những người thừa kế được công nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của người mất. Thực tế, không phải ai cũng nắm rõ phải làm ở đâu, theo trình tự nào và cần chuẩn bị giấy tờ gì. Bài viết này sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành và chỉ ra những vấn đề thực tiễn để giúp quá trình thừa kế diễn ra thuận lợi, hạn chế tranh chấp.
Thứ nhất: Thời điểm, địa điểm mở thừa kế và thủ tục niêm yết
Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản. Đây là cơ sở xác định nơi có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (nếu có) và nơi tiến hành thủ tục khai nhận di sản. Việc khai nhận thường được thực hiện tại văn phòng công chứng nơi người chết có hộ khẩu thường trú hoặc nơi tạm trú cuối cùng. Trước khi công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc văn bản khai nhận di sản, văn phòng công chứng phải niêm yết công khai 15 ngày tại UBND xã nơi người để lại di sản cư trú cuối cùng. Trường hợp di sản có bất động sản, việc niêm yết được thực hiện thêm tại UBND xã nơi có bất động sản. Hồ sơ cần chuẩn bị để thực hiện thủ tục kê khai di sản mà người thừa kế cần chuẩn bị bao gồm:
- Giấy chứng tử của người để lại di sản;
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu di sản (sổ đỏ, sổ tiết kiệm…);
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế (giấy khai sinh…);
- Giấy tờ tùy thân của người thừa kế;
- Giấy ủy quyền hoặc giấy từ chối nhận di sản (nếu có).
Thứ hai: Đăng ký sang tên tài sản là bất động sản
Sau khi có văn bản công chứng, người thừa kế thực hiện thủ tục sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có bất động sản. Cơ quan đăng ký đất đai sẽ thẩm tra hồ sơ, chuyển số liệu cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính, sau đó chỉnh lý hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao cho người thừa kế.
Thứ ba: Ưu tiên thương lượng hòa giải khi có tranh chấp thừa kế
Nhiều tranh chấp thừa kế phát sinh do người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Khi đó, việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo pháp luật. Nếu các bên không thỏa thuận được, có thể phải khởi kiện tại Tòa án, dẫn đến kéo dài thời gian, tốn kém chi phí và ảnh hưởng đến tình cảm gia đình. Thậm chí có trường hợp mâu thuẫn leo thang thành xô xát, đe dọa, gây tổn hại cả tinh thần lẫn sức khỏe của các bên.
Trong trường hợp không có di chúc, di sản thừa kế được chia theo pháp luật cụ thể như sau:
- Hàng thứ nhất: vợ hoặc chồng, cha mẹ (đẻ hoặc nuôi), con (đẻ hoặc nuôi) của người chết.
- Hàng thứ hai: ông bà nội ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột (gọi người chết là ông bà).
- Hàng thứ ba: cụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột; cháu ruột (gọi người chết là bác, chú, cậu, cô, dì); chắt ruột (gọi người chết là cụ nội, cụ ngoại).
Nguyên tắc chia thừa kế:
- Những người trong cùng một hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
- Người ở hàng sau chỉ được hưởng thừa kế khi không còn ai ở hàng trước do đã chết, bị truất quyền, từ chối nhận hoặc không có quyền hưởng di sản.
Để tránh tranh chấp, các gia đình nên khuyến khích việc lập di chúc khi người để lại di sản còn minh mẫn. Nếu tranh chấp đã phát sinh, các bên nên ưu tiên thương lượng, hòa giải để bảo vệ tình cảm gia đình. Khởi kiện ra Tòa án chỉ nên là lựa chọn cuối cùng khi không còn phương án thỏa thuận.
Luật sư Đinh Hùng Lĩnh – Giám đốc Công ty Luật RULE